Home / Chia sẻ HOT / Mẹ thông thái / Wonder week 19 – tuần khủng hoảng của bé (mẹ Ong Bông lược dịch) P1

Wonder week 19 – tuần khủng hoảng của bé (mẹ Ong Bông lược dịch) P1

Các mẹ thân mến!

Mốc tiếp theo trong thời kì “khó ở” của bé chính là wonder week 19. Các mẹ hãy cùng Babimart tham khảo bản lược dịch của mẹ Ong Bông về giai đoạn này nhé!

“Wonder weeks” có thể hiểu là những giai đoạn khủng hoảng, những thời kì khó ở trong quá trình phát triển của trẻ, gây stress cho cả ba mẹ và bé. Hiểu biết về wonder weeks sẽ giúp ba mẹ có những phương án chăm sóc và hỗ trợ con hiệu quả, giúp bé vượt qua được những giai đoạn khó khăn (đồng thời cũng là cột mốc đánh dấu những bước phát triển nhảy vọt) của con.

Cảm ơn mẹ Ong Bông vì những chia sẻ vô cùng hữu ích này!
“Bài viết này mình dịch từ sách The Wonder Weeks của Hetty van de Rijt Ph.D và Frans Plooij, Ph.D. Bản dịch hoàn toàn là với mục đích phi thương mại, dành cho các mẹ tham khảo và tìm hiểu. Trong bản dịch chắc chắn sẽ có nhiều sai sót mong các mẹ thông cảm, nếu có sự sai sót nào lớn mong các mẹ liên hệ với mình để mình sữa chữa lại ngay.

Note: Sự “khó ở” của các bé có thể xuất hiện trong khoảng từ tuần 14 đến 17 . Những kĩ năng và các hành động đạt được sau bước ngoặt ở tuần thứ 19 (hoặc giữa tuần 18 và 20) không xuất hiện cùng lúc mà tuần tự dựa theo sự lựa chọn của bé. bé sẽ lựa chọn những “kết quả” mà bé thấy phù hợp với bản thân để phát triển trước, các “kết quả” khác sẽ đến sau đó một vài tuần, thậm chí một vài tháng, thậm chí sang hẳn cả chu kỳ wonder week tiếp theo.

Bắt đầu từ tuần tuổi này, giai đoạn “khó ở” sẽ kéo dài hơn trước (hơn ww5 và ww12). Thông thường thì nó sẽ kéo dài 5 tuần, nhưng cũng có những bé vượt qua chỉ sau 1 tuần và có những bé “khó ở “ đến tận 6 tuần.

Sau bước ngoặt, em bé của bạn sẽ hiểu được rằng thế giới của bé được tạo nên từ rất nhiều những sự vật hiện hữu xung quanh cho dù bé có thể thấy chúng hay .không.

Các dấu hiệu cho thấy bé đang trong thời kỳ “khó ở”

1. Quấy khóc nhiều hơn bình thường, đôi khi tức giận hoặc cáu kỉnh.

2. Khó ngủ, ngủ không yên giấc, tỉnh giấc giữa đêm, đòi bú đêm lại hoặc bú đêm nhiều hơn, dậy sớm hơn.
3. Sợ người lạ, những người có đặc điểm kì lạ làm bé không thích)(ví dụ sợ người đeo kính hoặc người trang điểm đậm).

4. Bám mẹ, khóc ngay khi mẹ vừa rời đi.

5. Đòi hỏi nhiều sự quan tâm hơn từ mẹ, muốn được mẹ ôm ấp, muốn mẹ ở bên cạnh mọi lúc mọi nơi.

6. Đầu bé cần nhiều sự hỗ trợ của mẹ hơn. Ví dụ khi mẹ bế bé thì mẹ sẽ nhân ra rằng mình phải đỡ cổ bé thường xuyên hơn, đặc biệt khi bé đang trong cơn quấy khóc thì bé sẽ oặt người ra sau khi mẹ bế bé.
7. Biếng bú,

8. Im lặng, ít ê a hơn.
9. Kém linh hoạt, ít đập chân đập tay hay ít lẫy chẳng hạn.
10. Bắt đầu có dấu hiệu sáng nắng chiều mưa: lúc cười lúc khóc , hoặc đang cười lại bật khóc.
11. Muốn được mẹ vỗ về khi đang bú.
12. Bắt đầu biết mút tay hoặc mút tay nhiều hơn bình thường.

Các kĩ năng mới xuất hiện như thế nào

Vào khoảng tuần tuổi thứ 19, bạn sẽ nhận ra rằng con của mình đang cố gắng học hỏi những điều mớHầu hết các bé sẽ bắt đầu nhận thức và thử nhiệm với những chuỗi phối hợp ngắn và quen thuộc. Khả năng mới này sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hành vi của bé kể từ đây. Sau đây là những kĩ năng bé học được về các Sự việc.

Lưu ý lần nữa: Các kĩ năng và hoạt động sau đây không đến cùng một lúc. Chính con của bạn sẽ quyết định bé muốn được phát triển kĩ năng nào phù hợp với bé nhất, các kĩ năng còn lại sẽ đến sau vài tuần thâm chí vài tháng.

Điều khiển cơ thể

1. Bắt đầu di chuyển toàn bộ cơ thể ngay khi bé được đặt nằm xuống.

2. Lẫy .

3. Lật ngửa.

4. Khi đặt tay lên bụng, bé có thể vươn thẳng cánh tay.

5. Cố gắng nhổm đít và di chuyển nhưng chưa thành công.

6. Cố gắng chống 2 tay và 2 chân lên khi lẫy sau đó cố đẩy người lên nhưng chưa thành công.

7. Cố gắng học bò, xoay sở để trượt ra đằng trước hoặc đằng sau.
8. Dùng cánh tay để nâng nửa người đằng trước lên.

9. Ngồi kiểu con ếch khi dựa vào người mẹ.

10. Có thể đứng nếu có hỗ trợ.

11. Thích được di chuyển cơ miệng – chu mồm, lè lưỡi.

Với đồ, sờ mó và cảm nhận

1, Có thể với đồ vật.

2. Với lấy đồ vật bằng cả 2 tay.

3. Có thể với lấy đồ vật bằng cả 2 tay cho dù không cần nhìn xem đồ vật ở đâu.

4, Có thể di chuyện đồ vật từ tay nọ sang tay kia.

5. Ngậm tay bố mẹ.

6. Sờ môi hoặc cho tay vào mồm bố mẹ khi bố mẹ đang nói chuyện với bé.

7. Gặm đồ vật.

8. Có thể tự kéo một miếng vải (khăn, quần áo…..) ra khỏi mặt , lúc đầu làm chậm sau nhanh dần lên.

9. Có thể nhận biết một món đồ chơi hoặc đồ vật quen thuộc kể cả khi nó đang được bọc trong thứ khác; sẽ sớm từ bỏ nếu như không thể lấy được đồ chơi đó ra.

10. Cố lắc đồ chơi (ví dụ xúc xắc).

11. Cố đập đồ chơi vào mặt bàn.

12. Cố tình vất đồ chơi ra sàn.

13. Cố với những đồ vật ngoài tầm tay.

14. Hiểu được một món đồ chơi dùng để làm gì : ví dụ điện thoại đồ chơi dùng để gọi điện bằng cách bấm nút gọi.

15. Nghiên cứu các đồ vật kĩ càng, đặc biệt ưa thích khám phá mọi chi tiết của đồ chơi, tay và miệng.

Nhìn

1. Nhìn chăm chú những hành động lặp đi lặp lại như mẹ chải đâù, bố cắt bánh mì.

2. Nhìn chăm chú vào những cử động của môi và lưỡi khi bố mẹ nói chuyện.

3. Tìm kiếm bố mẹ và còn có thể quay xung quanh để tìm kiếm.

4. Tìm kiếm đồ vật đã được giấu đi một phần.

5. Phản ứng lại với hình ảnh của chính mình trong gương: có thể sợ hãi hoặc cười to thích thú.

6. Cầm sách trong tay và nhìn chằm chằm vào các bức tranh.

Nghe

1. Nghe chăm chú những âm thanh phát ra từ miệng bố/mẹ.

2. Phản ứng lại khi được gọi tên.

3. Có thể phân biệt 1 âm thanh riêng biệt trong một chuỗi những âm thanh khác nhau, vì vậy có thể đáp lại khi được gọi tên dù đang ở trong khu vực nhiều tiếng động.

4. Thực sự có thể hiểu 1 vài từ,ví dụ nhìn vào bạn gấu bông khi mẹ hỏi “Bạn gấu của con đâu rồi?” (Sẽ không phản hồi đúng câu hỏi nếu như đồ chơi đó không được để ở chỗ mà nó vẫn để).

5. Sẽ đáp lại một cách thích hợp với tiếng quở trách….

6. Nhận biết được phần mở đầu của một bài hát.

Nói

1. Phát ra những âm mới, sử dụng môi và lưỡi: fffft-ffft-ffft, vvvvvv, zzzzzz, sssss, brrrrr, arrr, rrrrr, grrrr, prrrr.

2. Sử dụng các phụ âm: d,b,l,m.

3. Bập bẹ. Những “từ” đầu tiên: mommom, dada, abba, haddahada, babaa, tata.

4. Làm ồn khi ngáp và nhận biết được tiếng ồn đó.

Ngôn ngữ cơ thể

1. Đưa tay ra cho mẹ bế.

2. Liếm môi khi đói, giơ tay giơ giân.

3. Há mồm và vươn cổ ra phía có đồ ăn hoặc đồ uống.

4. Nhè đồ ăn ra khi no.

5. Đẩy bình sữa hoặc nhả vú mẹ ra khi no.

6. Quay đi khỏi bình sữa hoặc bát cháo khi no.

Những kĩ năng khác

1. Có thể rất hứng thú với những hành động của bản thận. Ví dụ khi bé ho, mẹ phản hồi thì bé sẽ ho lại rồi cười.

2. Bực tức khi hết kiên nhẫn.

3. Hét lên khi bé không thể làm được một điều gì đó mà bé đang cố thực hiện.

4. Chọn một món đồ chơi ưa thích để ôm, như chăn chẳng hạn.

Có những thay đổi, kĩ năng mà trước khi wonder week bạn không thấy có nhưng sau wonder week lại xuất hiện cũng được coi như là những thay đổi bước ngoặt.

Phần 2 sẽ gồm có:
1. Những điều cần làm để giúp con bạn phát triển kĩ năng trong thời kỳ “bước ngoặt”.
2. Những trò chơi, đồ chơi thích hợp cho thời kỳ này.”

Nguồn: Blog mẹ Ong Bông

Xem lại: Wonder week 12 – mẹ Ong Bông lược dịch

Tham khảo thêm: Wonder week 19 – mẹ Ong Bông lược dịch P2

Check Also

cung-bai

Là con dâu ai cũng phải biết cách chuẩn bị cúng gia tiên ngày mùng Một, ngày Rằm này, mẹ chồng tấm tắc khen!

Theo phong tục, tín ngưỡng của ông cha ta, bất cứ người phụ nữ nào …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *